Thứ Tư, 4 tháng 5, 2016

Bệnh do vi rút ZIKA gây ra như thế nào?

Vi rút Zika (viết tắt là ZIKV) là một vi rút thuộc họ Flaviviridae được phân lập lần đầu tiên từ 1 con khỉ Rhesus trong rừng Zika của Uganda vào năm 1947 [3]. Năm 1968, vi rút này được phân lập trên người đó là các cư dân của Nigeria [2]. Kể từ đó, nhiều nghiên cứu xác định được kháng thể chống lại ZIKV Đối với người từ khá nhiều quốc gia châu Phi và 1 số nơi với châu Á [2]. Năm 2015, lần đầu tiên ZIKV được tìm thấy bên ngoài châu Phi và châu Á khi nó được phân lập Đối với Brazil, tại đây xuất hiện 1 ổ dịch nhỏ sau World Cup 2014 [4]. ZIKV quan hệ gần gủi của những vi rút khác thuộc họ Flaviviridae được lan truyền bởi muỗi như sốt xuất huyết, sốt vàng da, sốt Tây sông Nile, và viêm não Nhật Bản do vi rút [2]. ZIKV gây ra bệnh được gọi là sốt Zika, biểu hiện lâm sàng như phát ban dát sần (maculopapular rash) khắp cơ thể, sốt, đau khớp, và khó chịu [2]. Mặc dù vẫn chưa thấy biến chứng nghiêm trọng do ZIKV, nhưng vi rút này hiện diện khắp nơi trên thế giới, chu trình truyền bệnh liên quan đến muỗi, và thường hay lây lan qua đường tình dục,do đó ZIKV trở thành một tác nhân gây bệnh mới nổi quan trọng tác động trên phạm vi toàn cầu chưa lường trước được.

1. Cấu trúc gien của Zika

Cấu trúc gien của vi rút Zika là RNA sợi đơn dài 10.794bp của hai vùng không mã hóa được gọi là 5 'NCR và 3' NCR (non-coding regions). Khung đọc mở của vi rút Zika đọc như sau: 5'-C-prM-E-NS1-NS2A-NS2B-NS3-NS4A-NS4B-NS5-3' và mã hóa cho một polyprotein và sau đó nó được cắt thành capsid (C ), màng tiền thân (prM), vỏ (E), và những protein ko cấu trúc (NS) [8]. những protein E tạo nên bề mặt hạt vi rút và tham gia vào quá trình sao chép bằng cách gắn lên trên thụ thể của những tế bào cảm thụ [3]. NS1, NS3, và NS5 là những protein kích thước cao tính bảo tồn lớn trong lúc protein NS2A, NS2B, NS4A và NS4B là các protein nhỏ hơn và kỵ nước [8]. Vùng 3 'NCR bị 428 nucleotide thường hay đóng vai trò dịch mã, đóng gói RNA, tạo vòng, ổn định hệ gen, và định danh [3]. 3 'NCR tạo thành một cấu trúc vòng lặp và 5' NCR cho phép dịch mã thông qua 1 mũ nucleotide methyl hóa hay 1 protein gắn kết gien [7].

2. Cấu trúc của hạt vi rút Zika

Cấu trúc của ZIKV giống như các vi rút thuộc họ Flaviviridae khác. Bao gồm một nucleocapsid đường kính khoảng 25-30 nm được bao quanh bởi một màng lipid kép chứa các protein vỏ E và M. Hạt vi rút bị đường kính khoảng 40 nm của những phần nhô ra bề mặt đo khoảng 5-10 nm [8]. những protein bề mặt được sắp xếp thành khoảng hai mươi mặt đối xứng giống nhau [7].


3. Chu kỳ sinh sản của vi rút Zika trong tế bào cảm thụ

Chu kỳ sinh sản của ZIKV cũng giống như các vi rút thuộc họ Flaviviridae. Đầu tiên, hạt vi rút gắn vào những thụ thể Đối với màng tế bào cảm thụ thông qua những protein vỏ giúp vi rút xâm nhập vào tế bào cảm thụ. Tiếp theo, vi rút bơm vật liệu di truyền ssRNA vào tế bào chất với tế bào cảm thụ. Sau đó nó được dịch mã thành polyprotein tiếp theo nó cắt thành những protein cấu trúc và phi cấu trúc. Sự sao chép sau đó diễn ra Đối với tế bào chất được xem là nhà máy sản xuất vi rút kết quả tạo ra sợ ssRNA với ZIKV. Cuối với là lắp ráp thành hạt vi rút hoàn chỉnh và các hạt vi rút mới được vận chuyển tới những bộ máy Golgi và sau đó thải vào khoảng không nội bào nơi những hạt vi rút mới có nguy cơ lây nhiễm sang những tế bào cảm thụ mới [7].

4. Liên quan giữa vi rút Zika với môi trường và nghiên cứu bệnh học bệnh do vi rút Zika

4.1 Dịch tễ học

Kể từ lúc ZIKV được phát hiện đầu tiên Uganda, sau đó là Đối với những quốc gia châu Phi và châu Á (Gabon, Ai Cập, Nigeria, Senegal, Sierra Leone, Côte d'Ivoire, Cộng hòa Trung Phi, Campuchia, Micronesia, Malaysia, Pakistan, Ấn Độ, Thái Lan , Philippines, Indonesia) [3] và cũng như đã xuất hiện Đối với Brazil năm 2015 , rất có nguy cơ được bệnh được với từ các nước phương Tây đến thế vận hội World Cup 2014 [4].

Theo Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế): Tại Việt Nam hiện nay chưa phát hiện ca nào nhiễm vi rút ZIKA, tuy nhiên nước ta lưu hành bệnh sốt xuất huyết với với sự lưu hành của loại muỗi Aedes, đây là muỗi truyền vi rút ZIKA, đồng thời hiện nay vi rút ZIKA đã ghi nhận tại một số nước trong khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là Campuchia, nơi bị sự giao lưu du lịch, thương mại, lao động rất lớn cần nguy cơ vi rút ZIKA có thể xâm nhập và lan truyền tại nước ta. Bộ Y tế đang phối hợp chặt chẽ của Tổ chức Y tế thế giới để theo dõi sát diễn biến và các nguy cơ của bệnh cũng như tăng cường các biện pháp giám sát, phòng chống dịch bệnh nước ta.

4.2 Lan truyền

Sự lan truyền ZIKV chủ yếu là do muỗi. Tuy nhiên, 1 trường hợp gần đây cho thấy rằng nó khả năng lan truyền từ người sang người, thường hay đây là lần đầu tiên một bệnh do côn trùng truyền khả năng lan truyền qua đường tình dục [1]. Trong tự nhiên, nguồn chứa vi rút Zika chủ yếu hiện diện những loài linh trưởng [2]. Tuy nhiên, một nghiên cứu đã tìm thấy kháng thể chống lại ZIKV loài gặm nhấm [11]. Bởi vì nó bị khả năng truyền qua đường tình dục, phải các nghiên cứu sâu hơn phải được tiến hành để xác định tất cả các nguồn chứa và những véc tơ côn trùng để hiểu rõ hơn về sự lan truyền ZIKV.

4.3 Véc tơ truyền

Sự lan truyền của ZIKV trong tự nhiên giống như các loại vi rút thuộc họ Flaviviridae gần với ZIKV. Sự lan truyền này bao gồm muỗi và 1 loạt động vật bị vú [10]. Đối với ZIKV, rất nhiều loài muỗi thuộc giống Aedes là véc tơ truyền như Ae. africanus, Ae. aegypti, Ae. vitattus, Ae. furcifer, Ae. apicoargenteus, và Ae. luciocephalus [2]. “Lan truyền ngang” là thuật ngữ nói đến khả năng lan truyền vi rút từ muỗi sang những động vật vú. Ngược lại, “lan truyền dọc” là những quần thể muỗi truyền vi rút cho các thế hệ sau với chúng. Lan truyền xảy ra lúc một véc tơ nhiễm vi rút đốt vật chủ [10]. Nghiên cứu cho thấy rằng thời gian ủ bệnh của ZIKV trong muỗi là khoảng 10 ngày [2].

4.4 Lan truyền từ người sang người

một ca bệnh điển hình, đó là vào năm 2008, Tiến sĩ Brian Foy của Đại học Colorado sau khi đi nghiên cứu Đối với Senegal trở về thì dường như đã truyền ZIKV cho vợ sau lúc quan hệ tình dục. Cả tiến sĩ Foy và nghiên cứu sinh với ông là Kevin Kobylinski đã bị khá nhiều loài muỗi đốt khi nước ngoài và bệnh khoảng 5 ngày sau khi trở về Mỹ. Cả hai đã bị dấu hiệu sốt Zika và vợ của Tiến sĩ Foy đã thấy trong tinh dịch của chồng mình dường như máu. Khoảng 10 ngày sau đó, vợ Foy các dấu hiệu của sốt Zika trong lúc bốn đứa con với họ vẫn khỏe mạnh. khi đầu, người ta cho rằng Foy bệnh sốt xuất huyết, nhưng sau khi Kevin Kobylinski gặp 1 nhà côn trùng học y học - người đã bị kinh nghiệm với ZIKV, xét nghiệm được tiến hành cả ba bệnh nhân đều bị kháng thể chống lại ZIKV. Bằng chứng gián tiếp cho thấy rằng quan hệ tình dục là phương thức lây truyền nhưng tính chắc chắn không lớn do vợ của Foy đã bị muỗi Aedes đốt Colorado. Ngoài ra, vi rút cần mất 2 tuần mới hoàn thành chu kỳ Đối với muỗi trước khi gây nhiễm cho con người và vợ với Foy đã xuất hiện các triệu chứng chỉ 10 ngày sau khi ông trở về.
Ngoài quan hệ tình dục, những nghiên cứu đã chỉ ra rằng ZIKV có thể lây truyền qua truyền máu và con người có thểmột nguồn bệnh lây truyền từ người sang người.

4.5. Sốt Zika và sinh bệnh học ZIKV

Sốt Zika là bệnh liên quan đến nhiễm ZIKV. Trong lúc bị ít nguồn thông tin mô tả riêng về sinh bệnh học ZIKV, sự đồng thuận chung là các vi rút thuộc họ Flaviviridae do muỗi truyền được tái nhân bản đầu tiên Đối với trong những tế bào dendritic tại vị trí nhiễm, tại đó nó lây lan sang những khu vực khác của cơ thể qua đường máu và hệ bạch huyết. Hạt vi rút được nhân lên trong tế bào chất với những tế bào bị nhiễm, nhưng bị một nghiên cứu cho thấy kháng nguyên ZIKV cũng thường hay được tìm thấy trong nhân của tế bào vật chủ bị nhiễm [2].

4.6 Triệu chứng

Tài liệu đầu tiên về trường hợp bệnh sốt Zika năm 1964 mô tả các triệu chứng như: trước tiên là đau đầu và sau đó phát ban dát sần (maculopapular rash) bao phủ 1 phần cơ thể Đối với ngày hôm sau. Ngoài ra, trong cơn sốt thường kèm của đau lưng và 1 cảm giác chung của người bệnh là thấy khó chịu. Năm 1973, 1 bệnh nhân sốt Zika của biểu hiện sốt, đau khớp, đau đầu nhưng ko phát ban. 1 ổ dịch Indonesia bị 7 bệnh nhân biểu hiện sốt, nhưng thêm những triệu chứng khác như đau bụng và chóng mặt, tiêu chảy và biếng ăn nhưng không bị dấu hiệu phát ban. Ổ dịch trên đảo Yap (nằm trong quần đảo Caroline của phía tây Thái Bình Dương, và 1 phần của Liên bang Micronesia) biểu hiện bị phát ban dát sẩn, đau khớp, và viêm kết mạc. Trong tất cả những trường hợp, các triệu chứng đều nhẹ và thường tự hết trong một tuần mà không nên nhập viện hay ko thường hay bị biến chứng nặng [2].
Gần đây theo phân tích của CDC cho thấy trẻ đã bị nhiễm vi rút Zika trong giai đoạn bào thai và loại vi rút này đã xâm nhập vào não trẻ. Hai trường hợp trong đó sảy thai, hai trẻ khác tử vong sau khi ra đời.


4.7 Chẩn đoán

Chẩn đoán nhiễm ZIKV bao gồm xét nghiệm PCR để phát hiện vật liệu di truyền của vi rút cũng như các xét nghiệm bổ sung để phát hiện kháng thể chống lại ZIKV (IgM) trong huyết thanh. IgM chống lại ZIKV thường phát hiện được khoảng 3-5 ngày sau lúc nhiễm bệnh, nhưng phản ứng chéo thường xảy ra của sốt xuất huyết, sốt vàng da, viêm não Nhật Bản, và vi rút Tây Sông Nile. Nhiễm chéo thường phổ biến Đối với các bệnh nhân đã từng bị nhiễm những vi rút thuộc họ Flaviviridae trước khi nhiễm ZIKV. Xét nghiệm PCR nên được tiến hành trong vòng 10 ngày kể từ ngày khởi phát bệnh. Để tiến hành chẩn đoán tốt nhất, mẫu huyết thanh cần được xét nghiệm phân tích càng sớm càng tốt, rồi xét nghiệm lần thứ hai trong vòng 2-3 tuần sau đó [2].

4.8 Điều trị và phòng chống

Hiện nay, chưa vắc xin phòng bệnh cũng như chưa bị thuốc điều trị đặc hiệu bệnh Zika, cũng bởi vì các triệu chứng với bệnh tương đối nhẹ và bệnh có thể tự hết, cần chỉ dùng thuốc điều trị hỗ trợ, cung cấp nước thường xuyên và nghỉ ngơi. thường hay sử dụng Acetaminophen để chống lại sốt [6].

ZIKV được lan truyền bởi muỗi, theo khuyến cáo của CDC nên sử sụng kem xua, mặc quần áo dài tay và các biện pháp can thiệp khác để giảm số lượng muỗi [2] lúc vào vùng lưu hành bệnh. Ngoài ra, qua các nghiên cứu gần đây và thực tế cho thấy ZIKV bị khả năng lây truyền qua đường tình dục, bởi vậy phải phải thực hành tình dục an toàn.

Theo CDC, loại vi rút này đang lây lan nhiều nhanh tại châu Mỹ, do đó cần cảnh báo càng sớm càng tốt cho tất chúng ta là điều rất quan trọng. Bao gồm hạn chế đi lại tới 14 nước và vùng lãnh thổ là Brazil, Colombia, El Salvador, Guyane thuộc Pháp, Guatemala, Haiti, Honduras, Martinique, Mexico, Panama, Paraguay, Suriname, Venezuela và Puerto Rico nếu ko nên thiết.
(Nguồn: http://www.impehcm.org.vn)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Ads Inside Post

Flickr User ID

Comments system

Disqus Shortname