Vi rút Zika (viết tắt là ZIKV) là
một vi rút thuộc
họ Flaviviridae được phân lập lần đầu tiên từ
1 con
khỉ Rhesus trong rừng Zika
của Uganda vào năm 1947
[3]. Năm 1968, vi rút này được phân lập trên người đó là
các
cư dân
của Nigeria [2]. Kể từ đó,
nhiều
nghiên cứu xác định được kháng thể chống lại ZIKV
Đối với
người từ
khá nhiều quốc gia châu Phi và
1 số nơi
với châu Á [2]. Năm
2015, lần đầu tiên ZIKV được tìm thấy bên ngoài châu Phi và châu Á
khi nó được phân lập
Đối với Brazil,
tại đây xuất hiện
1 ổ dịch nhỏ sau World Cup 2014
[4]. ZIKV
có quan hệ gần gủi
của
những vi rút khác thuộc họ Flaviviridae được lan
truyền bởi muỗi như sốt xuất huyết, sốt vàng da, sốt Tây sông Nile, và viêm não
Nhật Bản do vi rút [2]. ZIKV gây ra bệnh được gọi là sốt Zika,
có biểu hiện lâm sàng như phát ban dát sần (maculopapular
rash) khắp cơ thể, sốt, đau khớp, và khó chịu [2]. Mặc dù vẫn chưa thấy
có biến chứng nghiêm trọng do ZIKV, nhưng vi rút này hiện
diện khắp nơi trên thế giới, chu trình truyền bệnh liên quan
đến muỗi, và
thường hay lây lan
qua đường tình dục,do đó ZIKV trở thành
một tác nhân
gây bệnh mới nổi quan trọng tác động trên phạm vi toàn cầu chưa lường trước
được.
1. Cấu trúc gien của Zika
Cấu trúc gien
của vi rút Zika là RNA sợi đơn dài
10.794bp
của hai vùng
không
mã hóa được gọi là 5 'NCR và 3' NCR (non-coding regions). Khung đọc mở
của vi rút Zika đọc như sau:
5'-C-prM-E-NS1-NS2A-NS2B-NS3-NS4A-NS4B-NS5-3' và mã hóa cho
một
polyprotein và sau đó nó được cắt thành capsid (C ), màng tiền thân (prM), vỏ
(E), và
những protein
ko
cấu trúc (NS) [8].
những protein E tạo
nên bề mặt hạt vi rút và tham gia vào quá trình sao chép
bằng cách gắn lên trên thụ thể
của những tế bào cảm thụ [3]. NS1, NS3, và NS5 là
những protein kích thước
cao và
có tính bảo tồn
lớn trong
lúc protein NS2A, NS2B, NS4A và NS4B là
các
protein nhỏ hơn và kỵ nước [8]. Vùng 3 'NCR
bị 428
nucleotide
thường hay đóng vai trò dịch mã, đóng gói
RNA, tạo vòng, ổn định hệ gen, và định danh [3]. 3 'NCR tạo thành
một cấu trúc vòng lặp và 5' NCR cho phép dịch mã thông qua
1 mũ nucleotide methyl hóa
hay 1 protein gắn kết gien [7].
2. Cấu trúc của hạt vi rút Zika
Cấu trúc
của ZIKV giống như
các
vi rút thuộc họ Flaviviridae khác. Bao gồm
một
nucleocapsid đường kính khoảng 25-30 nm được bao quanh bởi
một
màng lipid kép chứa
các protein vỏ E và M. Hạt vi rút
bị đường kính khoảng 40 nm
của
những phần nhô ra
ở bề mặt
đo khoảng 5-10 nm [8].
những protein bề mặt được sắp
xếp thành khoảng hai mươi mặt đối xứng giống nhau [7].
3. Chu kỳ sinh sản của vi rút Zika trong tế bào
cảm thụ
Chu kỳ sinh sản
của ZIKV cũng giống như
các vi rút thuộc họ Flaviviridae. Đầu tiên, hạt vi rút gắn
vào
những thụ thể
Đối với
màng tế bào cảm thụ thông qua
những protein vỏ giúp
vi rút xâm nhập vào tế bào cảm thụ. Tiếp theo, vi rút bơm vật liệu di truyền
ssRNA vào tế bào chất
với tế bào cảm thụ. Sau đó nó
được dịch mã thành polyprotein tiếp theo nó
có cắt
thành
những protein cấu trúc và phi cấu trúc. Sự sao
chép sau đó diễn ra
Đối với tế bào chất được xem là
nhà máy sản xuất vi rút kết quả tạo ra sợ ssRNA
với
ZIKV. Cuối
với là lắp ráp thành hạt vi rút hoàn chỉnh
và
các hạt vi rút mới được vận chuyển
tới những bộ máy Golgi và sau đó
thải vào khoảng
không nội bào nơi
những
hạt vi rút mới
có nguy cơ lây nhiễm sang
những tế bào cảm thụ mới [7].
4. Liên quan giữa vi rút Zika với môi trường và
nghiên cứu bệnh học bệnh do vi rút Zika
4.1 Dịch tễ học
Kể từ
lúc ZIKV được phát hiện đầu tiên
ở Uganda, sau đó là
Đối với những quốc gia châu Phi và châu Á (Gabon, Ai Cập, Nigeria,
Senegal, Sierra Leone, Côte d'Ivoire, Cộng hòa Trung Phi, Campuchia,
Micronesia, Malaysia, Pakistan, Ấn Độ, Thái Lan , Philippines, Indonesia) [3]
và cũng như đã xuất hiện
Đối với Brazil năm 2015 ,
rất
có nguy cơ được bệnh được
với
từ
các nước phương Tây
đến
thế vận hội World Cup 2014 [4].
Theo Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế): Tại Việt Nam hiện nay chưa phát hiện
ca nào nhiễm vi rút ZIKA, tuy nhiên nước ta lưu hành bệnh
sốt xuất huyết
với với sự
lưu hành
của loại muỗi Aedes, đây là muỗi truyền vi
rút ZIKA, đồng thời hiện nay vi rút ZIKA đã ghi nhận tại
một
số nước trong khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là Campuchia, nơi
bị sự giao lưu du lịch, thương mại, lao động rất
lớn cần nguy cơ vi rút ZIKA
có thể xâm nhập và lan truyền tại nước ta. Bộ Y tế đang
phối hợp chặt chẽ
của Tổ chức Y tế thế giới để theo
dõi sát diễn biến và
các nguy cơ
của
bệnh cũng như tăng cường
các biện pháp giám sát,
phòng chống dịch bệnh
ở nước ta.
4.2 Lan truyền
Sự lan truyền ZIKV chủ yếu là do muỗi. Tuy nhiên,
1
trường hợp gần đây cho thấy rằng nó
có khả năng lan truyền từ người sang người,
thường hay đây là lần đầu tiên
một
bệnh do côn trùng truyền
có khả năng lan truyền qua
đường tình dục [1]. Trong tự nhiên, nguồn chứa vi rút Zika chủ yếu hiện diện
ở những loài linh trưởng [2]. Tuy
nhiên,
một nghiên cứu đã tìm thấy kháng thể chống lại
ZIKV
ở loài gặm nhấm [11]. Bởi vì nó
bị khả năng truyền qua đường tình dục,
phải
các nghiên cứu sâu hơn
phải
được tiến hành để xác định tất cả
các nguồn chứa và
những véc tơ côn trùng để hiểu rõ hơn về sự lan truyền
ZIKV.
4.3 Véc tơ truyền
Sự lan truyền
của ZIKV trong tự nhiên giống như
các loại vi rút thuộc họ Flaviviridae gần
với ZIKV. Sự lan truyền này bao gồm muỗi và
1 loạt động vật
bị vú [10].
Đối với ZIKV,
rất nhiều loài muỗi
thuộc giống Aedes là véc tơ truyền như Ae. africanus, Ae. aegypti, Ae.
vitattus, Ae. furcifer, Ae. apicoargenteus, và Ae. luciocephalus [2]. “Lan
truyền ngang” là thuật ngữ nói
đến khả năng lan
truyền vi rút từ muỗi sang
những động vật
có vú. Ngược lại, “lan truyền dọc” là
những
quần thể muỗi truyền vi rút cho
các thế hệ sau
với chúng. Lan truyền xảy ra
lúc một véc tơ nhiễm vi rút đốt vật chủ [10]. Nghiên cứu cho
thấy rằng thời gian ủ bệnh
của ZIKV trong muỗi là
khoảng 10 ngày [2].
4.4 Lan truyền từ người sang người
một ca bệnh điển hình,
đó là vào năm 2008, Tiến sĩ Brian Foy
của Đại học
Colorado sau
khi đi nghiên cứu
Đối
với Senegal trở về thì dường như đã truyền ZIKV cho vợ sau
lúc quan hệ tình dục. Cả tiến sĩ Foy và nghiên cứu sinh
với ông là Kevin Kobylinski đã
bị
khá nhiều loài muỗi đốt
khi
ở nước ngoài và
có bệnh
khoảng 5 ngày sau
khi trở về Mỹ. Cả hai đã
bị dấu hiệu sốt Zika và vợ
của
Tiến sĩ Foy đã thấy trong tinh dịch
của chồng mình
dường như
có máu. Khoảng 10 ngày sau đó, vợ Foy
có các dấu hiệu
của sốt Zika trong
lúc bốn đứa
con
với họ vẫn khỏe mạnh.
khi
đầu, người ta cho rằng Foy
có bệnh sốt xuất huyết,
nhưng sau
khi Kevin Kobylinski gặp
1 nhà côn trùng học y học - người đã
bị
kinh nghiệm
với ZIKV, xét nghiệm được tiến hành cả ba
bệnh nhân đều
bị kháng thể chống lại ZIKV. Bằng chứng
gián tiếp cho thấy rằng quan hệ tình dục là phương thức lây truyền nhưng tính
chắc chắn
không lớn do vợ
của Foy đã
bị muỗi Aedes đốt
ở Colorado. Ngoài ra, vi rút
cần
mất 2 tuần mới hoàn thành chu kỳ
Đối với muỗi trước
khi gây nhiễm cho con người và vợ
với
Foy đã xuất hiện
các triệu chứng chỉ 10 ngày sau
khi ông trở về.
Ngoài quan hệ tình dục,
những nghiên cứu đã chỉ ra
rằng ZIKV
có thể lây truyền qua truyền máu và con
người
có thể là
một nguồn
bệnh lây truyền từ người sang người.
4.5. Sốt Zika và sinh bệnh học ZIKV
Sốt Zika là bệnh liên quan
đến nhiễm ZIKV. Trong
lúc bị ít nguồn thông tin mô tả
riêng về sinh bệnh học ZIKV, sự đồng thuận chung là
các
vi rút thuộc họ Flaviviridae do muỗi truyền được tái nhân bản đầu tiên
Đối với trong
những tế bào
dendritic tại vị trí nhiễm, tại đó nó lây lan sang
những
khu vực khác
của cơ thể qua đường máu và hệ bạch
huyết. Hạt vi rút được nhân lên trong tế bào chất
với
những tế bào
bị nhiễm,
nhưng
bị một nghiên cứu cho
thấy kháng nguyên ZIKV cũng
thường hay được tìm thấy
trong nhân
của tế bào vật chủ
bị
nhiễm [2].
4.6 Triệu chứng
Tài liệu đầu tiên về
trường hợp bệnh sốt Zika năm
1964 mô tả
các triệu chứng như: trước tiên là
có đau đầu và sau đó phát ban dát sần (maculopapular rash)
bao phủ
1 phần cơ thể
Đối với
ngày hôm sau. Ngoài ra, trong cơn sốt thường kèm
của
đau lưng và
1 cảm giác chung
của
người bệnh là thấy khó chịu. Năm 1973,
1 bệnh nhân
có sốt Zika
của biểu hiện sốt, đau
khớp, đau đầu nhưng
ko phát ban.
1
ổ dịch
ở Indonesia
bị 7
bệnh nhân
có biểu hiện sốt, nhưng
có
thêm
những triệu chứng khác như đau bụng và chóng
mặt, tiêu chảy và biếng ăn nhưng
không bị dấu hiệu phát ban. Ổ dịch trên đảo Yap (nằm trong quần
đảo Caroline
của phía tây Thái Bình Dương, và
1 phần
của Liên bang Micronesia)
biểu hiện
bị phát ban dát sẩn, đau khớp, và viêm kết
mạc. Trong tất cả
những trường hợp,
các triệu chứng đều nhẹ và thường tự hết trong
một tuần mà
không nên nhập viện
hay ko thường hay bị
biến chứng nặng [2].
Gần đây theo phân tích
của CDC cho thấy trẻ đã
bị nhiễm vi rút Zika trong giai đoạn bào thai và loại vi
rút này đã xâm nhập vào não trẻ. Hai
trường hợp trong
đó
có sảy thai, hai trẻ khác tử vong sau
khi ra đời.
4.7 Chẩn đoán
Chẩn đoán nhiễm ZIKV bao gồm xét nghiệm PCR để phát hiện vật liệu di truyền
của vi rút cũng như
các xét
nghiệm bổ sung để phát hiện kháng thể chống lại ZIKV (IgM) trong huyết thanh.
IgM chống lại ZIKV thường phát hiện được khoảng 3-5 ngày sau
lúc nhiễm bệnh, nhưng phản ứng chéo thường xảy ra
của sốt xuất huyết, sốt vàng da, viêm não Nhật Bản, và vi
rút Tây Sông Nile. Nhiễm chéo thường phổ biến
Đối với
các bệnh nhân đã từng
bị
nhiễm
những vi rút thuộc họ Flaviviridae trước
khi nhiễm ZIKV. Xét nghiệm PCR
nên
được tiến hành trong vòng 10 ngày kể từ ngày khởi phát bệnh. Để tiến hành chẩn
đoán tốt nhất, mẫu huyết thanh
cần được xét nghiệm
phân tích càng sớm càng tốt, rồi xét nghiệm lần thứ hai trong vòng 2-3 tuần sau
đó [2].
4.8 Điều trị và phòng chống
Hiện nay, chưa
có vắc xin phòng bệnh cũng như chưa
bị thuốc điều trị đặc hiệu bệnh Zika, cũng bởi vì
các triệu chứng
với bệnh tương
đối nhẹ và bệnh
có thể tự hết,
cần
chỉ
dùng thuốc điều trị hỗ trợ, cung cấp nước thường
xuyên và nghỉ ngơi.
thường hay sử
dụng Acetaminophen để chống lại sốt [6].
ZIKV được lan truyền bởi muỗi, theo khuyến cáo
của
CDC
nên sử sụng kem xua, mặc quần áo dài tay và
các biện pháp can thiệp khác để giảm số lượng muỗi [2]
lúc vào vùng lưu hành bệnh. Ngoài ra, qua
các nghiên cứu gần đây và thực tế cho thấy ZIKV
bị khả năng lây truyền qua đường tình dục,
bởi vậy phải phải
thực hành tình dục an toàn.
Theo CDC, loại vi rút này đang lây lan
nhiều nhanh
tại châu Mỹ,
do đó cần cảnh
báo càng sớm càng tốt cho tất
chúng ta là điều rất
quan trọng. Bao gồm hạn chế đi lại
tới 14 nước và
vùng lãnh thổ là Brazil, Colombia, El Salvador, Guyane thuộc Pháp, Guatemala,
Haiti, Honduras, Martinique, Mexico, Panama, Paraguay, Suriname, Venezuela và
Puerto Rico
nếu ko nên thiết.
(Nguồn: http://www.impehcm.org.vn)